7 điều bạn nên biết để cải thiện vốn tiếng Anh hiệu quả (P1)

Được mệnh danh là ngôn ngữ Quốc tế, chúng ta không thể phủ nhận sự phố biến của tiếng Anh trong cuộc sống hằng ngày. Tiếng Anh là một ngôn ngữ rất thông dụng trên thế giới hiện nay với khoảng 1.5 tỷ người nói tiếng Anh trên toàn thế giới. Trong 1.5 tỷ người này, chỉ có khoảng 375 triệu người có tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ, còn hơn 1.1 tỷ người còn lại là nói tiếng Anh như là một ngoại ngữ! Vậy làm sao để chúng ta có thể cải thiện vốn tiếng Anh của mình?

1. Sử dụng thường xuyên

Bước đầu để sử dụng hiệu quả tiếng Anh, chúng ta cần thầu hiểu rằng bản thân cần phải mạnh dạn sử dụng tiếng Anh trong cuộc sống hằng ngày nhiều hơn. Bằng chứng thiết thực nhất mà chúng ta có thể lấy làm ví dụ, đó chính là khi bạn nghe những người Việt đang sống ở nước ngoài nói tiếng Việt. Tại thời điểm họ chuyển đi sinh sống ở nước ngoài họ có thể nói tiếng Việt rất tốt, như chúng ta.

Muốn học tốt tiếng Anh phải thường xuyên sử dụng

Nhưng sau 20, 30 năm sinh sống ở nước ngoài, sử dụng tiếng ở nơi đó thường xuyên hơn tiếng Việt, họ sẽ vẫn nói được tiếng Việt nhưng sẽ không được nhuần nhuyễn như trước: ví dụ như sử dụng một số từ không chính xác lắm, không thể diễn đạt một số ý họ muốn nói một cách chính xác trong tiếng Việt, hay phát âm tiếng Việt hơi bị “lớ” do bị lai với phát âm của ngôn ngữ nơi họ đang sinh sống.

Như vậy, chúng ta có lẽ có thể hiểu được tầm quan trọng của việc sử dụng tiếng Anh thường xuyên trong cuộc sống hằng để có cải thiện được vốn tiếng Anh. Tuy nhiên, để cải thiện tiếng Anh hằng ngày thì cần luyện tập giỏi những kỹ năng nào?

2. Để giỏi tiếng Anh cần giỏi cái gì?

Cũng như bất cứ ngoại ngữ nào thì để học thật giỏi tiếng Anh thì cần luyện tập nhuần nhuyễn 4 kỹ năng cơ bản: nghe (Listening skill), nói (Speaking skill), đọc (Reading skill), viết (Writing skill).

Và có một cách phân loại 4 kỹ năng này mà bạn cần biết:

Kỹ năng chủ động (Active skills) Kỹ năng thụ động (Passive skills)
  • Kỹ năng nói & viết
  • Gọi là chủ động vì 2 kỹ năng này đòi hỏi chúng ta phải “chủ động” tạo ra (lời nói, chữ viết)
  • Kỹ năng nghe & đọc
  • Gọi là thụ động vì với 2 kỹ năng này chúng ta chỉ cần “thụ động” hiểu những gì người khác nói / viết.

Để nâng cao 4 kỹ năng này, người học cần có một căn bản vững chắc về ngữ pháp và từ vựng – nhưng để học nó lại không phải là điều dễ dàng.

3. Tại sao lại phải tập chung vào học tập ngữ pháp và từ vựng?

Ngữ pháp và từ vựng tiếng Anh là nền tảng để phát triển 4 kỹ năng tiếng Anh (nghe, nói, đọc, viết). Vậy tại sao ngữ pháp và từ vựng lại là nền tảng trong việc học tiếng Anh?

  • Ngữ pháp quan trọng ra sao?

Để diễn đạt được ý tưởng của chúng ta (dưới dạng nói hay viết) thì chúng ta cần phải tổ chức nó thành một hoặc nhiều câu mà người khác có thể hiểu được.

Cách để người khác có thể hiểu được điều chúng ta muốn nói là những gì chúng ta nói / viết ra phải tuân theo đúng ngữ pháp của của ngôn ngữ đó (ở đây là tiếng Anh).

Ngữ pháp đơn giản là tập hợp các quy ước của trò chơi có tên là ngôn ngữ. Để người Việt hiểu điều bạn nói, câu bạn nói ra phải tuân theo quy ước của tiếng Việt. Tương tự, để người Anh hiểu điều bạn nói, bạn phải nói đúng theo quy ước của tiếng Anh: và tập hợp các quy ước đó có tên là Ngữ pháp tiếng Anh.

Từ vựng và ngữ pháp quan trọng tới mức nào?

  • Từ vựng cần thiết đến như thế nào?

Nếu không có từ vựng, chúng ta sẽ không diễn đạt được bất kì điều gì. Nếu chúng ta muốn nói “cái bàn” mà không biết từ “table” trong tiếng Anh thì chúng ta sẽ bị “câm” ngay. Từ vựng là vô cùng quan trọng!

Liên tưởng về trò chơi ghép hình: từ vựng chính là những mảnh ghép, còn ngữ pháp là cách chúng ta ghép những hình đó lại với nhau để ra hình đúng. Từ vựng chính là những mảnh ghép, còn ngữ pháp là cách chúng ta ghép những hình đó lại với nhau để tạo ra hình đúng.

Cụ thể, lấy ví dụ rằng chúng ta muốn nói câu “Con mèo đang ở trên bàn”. Câu tiếng Anh đúng là: “The cat is on the table”. Nếu bạn thiếu từ vựng thì cũng như một tấm hình thiếu mất một vài mảnh ghép. Và do đó, người nghe sẽ không biết ở chỗ đó bạn muốn nói về cái gì.

4. Trong 4 kỹ năng, nên bắt đầu từ kỹ năng nào?

Việc phát triển cùng lúc 4 kỹ năng cùng có thể sẽ “quá sức” đối một số bạn. Vậy nên chúng ta có thể ưu tiên học kỹ năng “nghe” trước. Bởi lẽ nói, viết “khó” hơn nghe, đọc nên hầu hết chúng ta đều đánh giá cao nhóm kỹ năng chủ động hơn là nhóm thụ động.

Theo Stephen Krashen, giáo sư danh dự của trường đại học Nam California, người có những đóng góp to lớn cho lĩnh vực giáo dục ngoại ngữ và giáo dục nói chung thông qua rất nhiều những nghiên cứu của mình. Trong số những nghiên cứu của ông, nổi tiếng hàng đầu là Giả thuyết Đầu vào (Input Hypothesis) mà ông đã giới thiệu cách đây hơn 40 năm.

Có rất nhiều điểm quan trọng mà Krashen đã đề xuất từ những nghiên cứu của ông, nhưng dưới đây là câu nói tóm gọn của ông liên quan trực tiếp đến vấn đề chúng ta đang nói:

“We acquire language in one way and only one way: when we get comprehensible input in a low anxiety environment.”

Chúng ta tiếp thu ngôn ngữ theo một cách và chỉ một cách: khi chúng ta tiếp xúc với đầu vào có thể hiểu được trong một môi trường gây ít lo lắng.

Kỹ năng nghe (listening skill) là 1 trong những kỹ năng vô cùng quan trọng

“Thông tin đầu vào có thể hiểu được” là thông tin, ở đây chỉ đến câu văn hay lời nói trong ngoại ngữ chúng ta đang học, không quá khó đối với trình độ của người học. Nếu khó hơn, nó cần được giải thích, minh họa bằng hình ảnh, cử chỉ hay điệu bộ, … để giúp người học có thể hiểu được. “Môi trường gây ít lo lắng” là môi trường trong đó người học có thể thoải mái tiếp thu kiến thức mà không chịu sự tác động của những cảm xúc tiêu cực. Sự có mặt của những cảm xúc tiêu cực (như sự cưỡng ép, mệt mỏi, không có động lực, …) sẽ làm giảm khả năng tiếp thu những thông tin đầu vào.

Như vậy, theo Krashen, để tiếp thu một ngoại ngữ, thay vì học từ chương về ngôn ngữ đó, cách tốt nhất là tiếp xúc trực tiếp với ngoại ngữ đó dưới dạng âm thanh (nghe) hoặc dưới dạng chữ viết (đọc), trong một môi trường học thoải mái, hấp dẫn.

(Link bài viết phần 2): 7 điều bạn nên biết để cải thiện vốn tiếng Anh hiệu quả (P2)

.
.
.
.